Thursday, November 26, 2009

2012

Cái này là để nói về 2012, nhưng không phải nói chính xác về bộ phim. Tối qua tôi đi xem phim này, ngày giảm giá vui vẻ và đáng lẽ tôi đã chọn Inglorious Basterds chứ không phải 2012. Nhưng vì công sức quảng cáo, toàn bộ suất chiếu buổi tối của Inglorious Basterds bị dẹp bỏ không thương tiếc, để nhường chỗ cho 2012, sau đó, vì thương tình anh Tarantino thì phải, Mega lại để lại cho phim anh suất 9h15, suất này nếu tôi coi thì về nhà ngủ ở vỉa hè, chưa kể khi xem xong 2012 rồi mới thấy họ đổi suất, nên đi về.

Từ khi bắt đầu đi xem phim rạp tới giờ, tôi chưa thấy có phim nào khiến khán giả háo hức như phim này – suất chiếu tôi xem là 18h, vậy coi như 18h15 nó mới bắt đầu– nhưng như vậy vẫn là quá sớm. Đường Sài Gòn thì chật như nêm cối nên tất nhiên có rất nhiều bạn dù chắc đã mua vé từ trưa (tôi đoán vậy vì khi tôi mua đã hết vé rồi, chỉ còn mấy suất ghế đôi đắt tiền hơn chút) vẫn tới rất muộn – nhưng muộn vẫn tới. Phim chiếu tới ¾ rồi vẫn có người lục tục đi vào. Nếu là tôi, dù mất tiền vé, tôi cũng chẳng vào nữa, xem phim như vậy tốn thời gian, thà bỏ tiền ra mua vé khác, xem suất sau. Nhưng, tôi nghĩ, có thể là phim khác họ cũng không nhất định phải vào xem bằng được, chẳng qua vì đây là 2012.

Phim này như mọi phim kiểu này, khiến người ta sướng chết đi được vì kỹ xảo. Tôi nhớ rằng lần cuối cùng tôi còn choáng với kỹ xảo là xem Harry Potter 6, đoạn đầu tiên, khi người ta quay theo mắt của bọn Tử Thần Thực Tử đang bay vèo vèo uốn lượn quanh những con phố Luân Đôn. Tôi choáng vì màn hình của phòng chiếu số 1, trung tâm chiếu phim Quốc gia thuộc dạng rất lớn và vì người ta chọn góc nhìn từ nhân vật đang chuyển động nhanh, nên tôi thấy tim ngực đập một tí. Kể cũng hạnh phúc! Màn hình ở mega không lớn bằng vậy, nên tôi nghĩ 2012 cũng hơi bị phí đi một chút. Hơn nữa, bộ phim này ít khi lấy view từ nhân vật, nên cảm giác về sự rối loạn và sợ hãi cũng có bị giảm bớt. Nói tới đây lại nhớ tới Cloverfield và nỗi đau khổ vì không được xem nó ở rạp vì Megastar loại nó thẳng cánh – “khán giả không chịu nổi chị ạ” – em bán vé nói y nguyên thế này.

Ngoài chuyện kỹ xảo, 2012 cũng là một bộ phim có câu chuyện đâu ra đấy, có chính, có phụ, có sâu có rộng dù hơi dramatic cải lương. Tôi so với cải lương không chỉ là đơn thuần nói cho vần đâu, nó thực sự là một vở cải lương – vì những đoạn dùng dằng kẻ ở người về, giơ kiếm lên hát một bài mới chém, dứt áo ra đi ca dăm bảy điệu mới đi… khiến cho khán giả (ít nhất là tôi và bạn tôi) hết sức khó chịu. Tất nhiên nói vậy không phải để chê cải lương, nhưng một bộ phim toàn sóng thần và núi lửa thế này mà lắm đoạn ỉ ôi xem hơi bực. Tuy nhiên, bộ phim này không thiếu những đoạn thực sự cảm động. Tôi còn chảy nước mắt khi xem tới đoạn anh tiến sỹ Adrian gọi điện cho ông bố đang ở trên chiếc tàu ngoài khơi, và ông bố nói, không nhớ chính xác nhưng gần như thế này: Bố và mẹ sống cả đời, trải qua đủ thứ rồi và thành quả lớn nhất của bố mẹ là con – điều đó có nghĩa là anh ta phải tiếp tục sống. Tôi lúc nào cũng rất dễ rơi nước mắt ở những đoạn phim nói về tình mẫu tử, dù phim dở tới mấy. Kể cũng lạ, có lẽ tại tôi phải xa nhà sớm quá, lại chưa có con chăng? Thêm vào đó, bộ phim này chỉ xoay quanh tình mẫu tử, và gia đình, có tình yêu đôi lứa nhưng hơi mờ nhạt và ẩn ý nhiều hơn là cụ thể. Trong bộ phim có tới bốn cặp bố con, ba gia đình. Có thể người làm phim muốn bỏ qua tình yêu nam nữ cho nó đỡ nhàm, và rõ ràng là khi bạn sắp chết thì con cái mới là điều quan trọng nhất.

Trong phim này nhân vật nữ khá mờ nhạt và chủ yếu là ôm con (hoặc chó) khóc lóc, trừ một cô da đen con ông tổng thống da đen (đám làm phim này chắc là fan của Obama – vì khi phim này bắt đầu làm thì hình như đâu đã xong bầu cử?), cô nàng có trách nhiệm bảo quản các tác phẩm nghệ thuật vĩ đại của thế giới khi ngày tận thế tới để gìn giữ cho muôn đời sau. Anh chàng Adrian thì mang theo một đống sách, trong đó có sách của nhân vật nam chính (the hero theo mọi nghĩa của từ này). Tôi tự hỏi: Ô kìa, thế không ai mang phim đi cho nhân loại về sau xem à? Ít nhất, vào cái năm 2012 ấy, họ cũng nên mang theo phim 2012 của năm 2009 đi để cho bà con xem chứ. Đám này thật kém hài hước quá! Tuy nhiên, các bạn cũng hài hước ở điểm các hãng máy tính đều bị chìm dưới nước cả, chỉ có một hãng máy tính có được hạnh phúc ở lại cùng nhân loại. It’s Sony – Vì sao Sony được ở lại thì ai cũng biết. Có một cảnh tôi phì ra thành tiếng vì cả khuôn hình tối đi hết (thậm chí cả cái màn hình laptop cận cảnh cũng tối mới sợ), có mỗi chữ sony trên cái laptop là sáng trưng. Một nhân vật trong phim tên là Noah – kiểu để nhắc lại cho bạn rằng cách đây lâu lắm rồi, cái thời đại hồng thủy ấy, người ta cũng có cái thuyền và phải đưa tất cả các loài vật lên đó kiểu này này, nhưng tất nhiên hồi đó thì khác, vì chúng ta đã có sony vaio đâu.

Thật ra cái kết phim này làm tôi hơi thất vọng, nhưng vì nhiều bạn chưa đi xem, tôi không nói tới làm gì. Đại để nó tốt đẹp quá! Nhưng cũng chẳng có gì để nói, phim 2012 là kiểu phim điển hình (muốn hiểu tại sao mời sang đọc blog anh Phanxine), nó không khiến tôi bất ngờ nhiều, và bởi vì nếu muốn bất ngờ thì người ta đã đi coi Inglorious Basterds rồi.

Tóm lại, bạn biết rồi đấy năm 2012 chúng ta sẽ có núi lửa, sóng thần, và các lụa địa sẽ trôi dạt như kiểu thời khủng long ấy. Vì chúng ta ở Việt Nam, nên trước khi bất cứ thứ gì xảy ra cho bất cứ cái gì ở California hay Washington DC, thì chúng ta đã ngỏm củ tỏi vì nước biển dâng tràn do trái đất nóng lên rồi – nên có ai nói gì tới VN trong phim 2012 đâu. Vậy thì còn chần chừ gì nữa, làm tới đi.

À, nói tới đây, tôi lại nhớ tới phim Battle Royale, trong phim có đoạn thằng kia thích em này đã lâu, khi bị dồn lên đảo thì chạy tới em và nói: trời, đằng nào bọn mình cũng chết, thì làm thế một lần đi cho biết. Thế rồi, sau một hồi đôi co, em này đâm cho thằng kia mấy nhát, chết tươi. Đôi khi muốn làm tới cũng không nổi đâu.


500 days of Summer

(Bài viết này để cổ xúy bạn xem phim, không phải review)

Bạn Ớt cho tôi biết một chuyện, (500) days of Summer ở Mỹ chỉ được chiếu Limited nên bạn không được xem. Thật đáng tiếc! Trên IMDB, trong mớ still photograph, tôi thấy có những ảnh chụp mà trong phim tôi không nhìn thấy (mình có ngủ gật không nhỉ?) – băn khoăn mãi, hóa ra đó là một video ngắn mà nàng đóng vai Sid, còn chàng đóng vai Nancy. Đây là một bộ phim do Fox Searchlight phát hành, là tác phẩm đầu tay của Mark Webb, là sản phẩm đầu tiên (và có thể là duy nhất) của Watermark. Tóm lại, đây là một bộ phim độc lập! Và bởi thế, nó có thể mang lại cho ta điều ta muốn, tức là vứt quách những lối mòn rom-com lâu nay ta vẫn phải đi.

Ban đầu, tôi không định ra rạp xem phim này, thứ nhất là vì rom-com chưa từng là thứ tôi thích, thứ hai là vì chuyện cá nhân. Rốt cục, vẫn đi xem vì được bao vé! Nhảm thế đấy :)).

Người kể chuyện, ngay từ khi bắt đầu đã nói rằng: Đây không phải là một câu chuyện về tình yêu. Và trên thực tế, nếu như bạn nhất quyết đồng ý, thì đây thực sự không phải là một câu chuyện về tình yêu. Cho dù, có một gã tên là Tom tốt nghiệp kiến trúc đi làm nghề viết thiệp đã gặp một cô tên là Summer xinh đẹp, ngọt ngào, thông minh. Chàng yêu nàng, còn nàng thì chẳng tin vào tình yêu, chẳng tin vào số phận, chẳng tin vào hạnh phúc vĩnh viễn. Họ có chung thú vui âm nhạc, họ có chung một góc nhỏ yêu thích ở thành phố. Nàng coi chàng là hiện tại, và nàng enjoy nó. Nàng thậm chí chẳng coi chàng là bạn trai, và chàng phải trả giá bằng một quả đấm và rất nhiều hậm hực mới được nàng chấp nhận họ là một cặp. Rồi một ngày nọ, nàng bảo chuyện đôi ta kết thúc, quay về làm bạn. Và chàng rơi khỏi thế giới…

Đó là kể lần lượt, nhưng thực ra bộ phim bị xáo trộn thời gian. Câu chuyện về Summer là những ký ức được Tom gọi về từ hiện tại đau khổ, những ký ức ngọt ngào hết mức để xát muối vào cơn đau thất tình. Tính hài hước nằm ở sự đối lập giữa những ngày rực rỡ có Summer và những ngày tê tái không còn cô, sự đối lập giữa một thế giới vẫn tiếp tục nhởn nhơ khi Tom khóc huhu vì đau khổ. Tom bị nhốt ở trong đó, cho tới khi cô em gái mười mấy tuổi nói rằng, “Anh cần phải nhớ lại mọi chuyện cho thật kỹ…” Và hóa ra, ngay trong những ngày tươi đẹp đó, một điều gì đã bước vào giữa Summer và Tom. Một điều mà Tom không hiểu được về Summer, không ai hiểu được… Cô đi xem phim The graduate, cô khóc khi nhân vật trong phim tới cướp người yêu tại đám cưới, và sau đó, cô chính thức loại Tom khỏi tình yêu, đơn giản thế. Có một cái gì đó Tom không hiểu được về cô, về thế giới lãng mạn mơ hồ cô xây dựng cho riêng mình, sự tự do cô luôn biết tự điều khiển. Tom chấp nhận yêu nàng và nàng chỉ thích anh trong một quãng thời gian, nàng chẳng bao giờ thực sự chắc chắn cần tới anh. Tóm lại, Tom – là – một – gã – chỉ – biết – yêu – thôi – chẳng – biết – gì.

Và khi người ta nhận ra mình chẳng hiểu gì, người ta phải thay đổi, kể cả sự thay đổi đó rất mệt mỏi và thiếu cơ hội thành công, người ta vẫn nên thay đổi. Và khi đó người ta mới nhận ra rằng, thực ra, Summer chính là Sid, cô đã nỗ lực giúp Tom thay đổi, đá vào đít anh để anh thay đổi, vậy mà anh chẳng thay đổi gì ngoài chuyện dám hét lên từ “penis” giữa nơi công cộng (bạn dịch phụ đề dịch thành Của quý, xời, nếu là tôi ấy, chí ít tôi cũng dịch thành Dương vật) cho tới lúc cô đã bỏ đi rồi. Nhưng, ngay cả khi đã thay đổi, Summer cũng không quay lại nữa, mùa hè đã qua và mùa khác sẽ tới.

Đó chính là yếu tố khiến (500) Days of Summer trở nên đặc biệt. Bộ phim này, ít nhiều khiến tôi nhớ lại Forgetting Sarah Marshall, đều là câu chuyện của hai chàng trai một ngày nọ bỗng nhiên bạn gái (vợ) họ xuất hiện vào bảo họ rằng: Chuyện ta hết rồi và thế là anh chàng lăn đùng ra đau khổ. Kết cục ở cuối phim, cả hai chàng đều thay đổi và dám đi theo giấc mơ của mình. Nhưng, Forgetting Sarah Marshall vẫn mang giấc mơ cổ tích áp đặt hơn bộ phim mới này. Forgetting Sarh Marshall vẫn là bộ phim về tình yêu.

Vậy thì (500) Days of Summer nói về điều gì? Bộ phim nói về chuyện người ta nên ngồi đó chờ đợi một sự may mắn của số phận hay tự xông vào giải quyết cuộc đời mình. Tới phần cuối của bộ phim, Summer tin vào số phận, còn Tom – kẻ tin vào số phận từ đầu – lại biết rõ rằng chẳng có số phận gì sất. Vậy thì tóm lại bạn tin vào ai?

Cái khéo của (500) Days of Summer là sự gieo rắc cho Tom và chính khán giả hết hi vọng mong manh này tới hi vọng mong manh khác. Đám người ngồi trên ghế, nghển cổ lên màn hình đều khấp khởi tin rằng: a, đây rồi, Summer sẽ quay lại. Thậm chí tới lúc nàng mặc váy cưới, Tom ngồi trên xe bus (một hình ảnh nhại lại từ The Graduate), người ta thấy hơi ngạc nhiên sao anh ta không phăm phăm chạy tới và cướp lấy nàng? Nhưng, cuộc đời là thế, và người ta phải công nhận chuyện đó, khi bộ phim kết thúc.

(500) Days of Summer kết hợp khá nhiều thứ linh tinh nhỏ nhỏ, hay hay: một tí hình họa – cho phù hợp với chàng học kiến trúc, một tí ca nhạc (dù sao thì anh đạo diễn cũng kiếm sống bằng clip ca nhạc bấy nay) và dùng một thứ màu sắc giả cổ điển, thậm chí style ăn mặc của nhân vật trong phim cũng vậy. Tuy nhiên, những cái này cũng chỉ như gia vị mắm muối và tôi không thực sự bận tâm lắm.

(Bài này cũng bỏ qua phần bình luận diễn viên, chỉ ngắn gọn rằng: casting của phim này hoàn hảo).

Friday, June 12, 2009

Đời cho ta thế

Ngày xưa, nhạc Trịnh Công Sơn là những bài hát duy nhất mà tôi thực sự nghe. Khi đó, tôi mười bảy, mười tám tuổi, có rất nhiều bạn bè, mê Nick Carter, Billy Gilman… và những thứ nhắng nhít khác, nhưng tôi chỉ nghe nhạc Trịnh Công Sơn khi ở nhà. Tuy nhiên, mấy lời ngớ ngẩn ở trên chỉ là nói cho hay vậy thôi.

Tôi xem I am Sam tổng cộng bao nhiêu lần không rõ. Trong phim này có đoạn con bé con trèo qua cửa sổ, chạy tới căn hộ của ông bố, đêm nào cũng chạy đi như thế. Nó không ghét bố mẹ nuôi, nhưng tất nhiên nó không thể yêu bố mẹ nuôi bằng người cha (tuy cũng là hờ của nó được). Vì thế, đoạn phim đó với tôi rất cảm động, nó giản dị và chân thực, nhưng nó vẫn là cao trào. Rồi, sau nhiều ngăn cản không thành, một tối nữa người mẹ nuôi bế nó tới chỗ người cha kém thông minh, nói rằng nó ngủ quên, bà không muốn nó tỉnh dậy và nhận ra nó đang ngủ trong nhà của họ. Đoạn này, luôn làm tôi khóc. Sến thế đấy.

Về độ sến, chính ra dân Mỹ là tuyệt đỉnh.

Về chữ sến, sến đại ca nói rằng, sến có nghĩa là những từ vốn nghĩa rất sâu sắc và lãng mạn, nhưng bị người ta dùng nhiều quá tới mức trở thành trơ. Nhưng tôi nghĩ, đó là từ sáo rỗng. Còn sến, có nghĩa là… như sến anh ấy. Hay là như tôi, có một đợt, phim hơi bi kịch tí là lăn ra khóc, mắt sưng lên như hai quả mận.

Tôi luôn tự thắc mắc tại sao mình mãi vẫn không biết bơi?

Có rất nhiều thứ tôi phải luyện tập rất khó khăn mới có thể làm được như mọi người, trong khi họ chỉ loáng cái đã biết làm rồi. Ví dụ như chuyện đi thi môn lịch sử Đảng chẳng hạn. :))

Khi tôi vào đại học, pa ma mong tôi theo nghề giáo viên. Tôi ghét nghề này. Ngày nào cũng đứng trên lớp, nói đi nói lại một điều gì đó, bọn trẻ ở dưới (giống mình khi xưa) coi mình chẳng ra làm sao và dần dần sinh ra trạng thái tự mãn, cho mình là quan trọng. Tôi luôn nghĩ, một đứa trẻ nếu quá ngoan và quá nghe lời thầy cô thì tới 80% là nó hỏng quách rồi. 20% còn lại là hi vọng vào nội lực tiềm tàng có thể thay đổi khi nào đó. Đời cho ta thế, cái đó, ta phải tận dụng lấy nó.

Tôi lan man mãi, thực ra vẫn là muốn nói về Trịnh Công Sơn. Tôi bắt đầu nghe nhạc Trịnh Công Sơn từ khi còn khá bé, những bài hát đó bị thâu vào cùng những chiếc băng cassette nhạc vàng, tôi tự động loại những bài chàng nàng, và chỉ nhớ những bài buồn rầu về thân phận của ông. Đôi khi, nó chỉ là một cái gì đó bản năng vậy, tôi nghĩ âm nhạc không cần phải được thuyết giáo, tôi bi quan bẩm sinh nên nó thế. Sau này, tôi học với một người thầy rất tốt, cho dù thầy cũng nói có mấy thứ hết năm này sang năm khác. Thầy thích nhạc Trịnh Công Sơn, làm cho cả lớp nhiều đứa nghe nhạc Trịnh Công Sơn. Nghe nhiều quá thành phong trào. :) Về sau, khi học đại học, tôi thấy có quá nhiều người nghe nhạc của ông, OK thôi. Nhưng họ biến ông thành dạng celeb, với tôi đó là điều không thể chịu đựng được. Và vì thế, tôi chỉ bật nhạc Trịnh Công Sơn những khi không thể nghe được gì khác nữa. Mặc ai thích bình luận ra sao, đối với tôi, nhạc Trịnh Công Sơn nhất định không phải là thứ để các bà các mợ tung hô rầm rĩ, tổ chức các chương trình như của Britney Spears. Họ làm kệ họ, chẳng ai làm gì được họ, nhưng tôi sẽ giữ chặt nhạc của ông ở đó như một điều quý giá mà chỉ khi nào cần kíp lắm mới lấy ra.

Có một thời gian, tôi bật I am Sam, nhưng tôi để mute DVD, tôi mở nhạc Trịnh Công Sơn bằng một chương trình khác, nghe bằng headphone để không ai quấy rầy tôi. Đó là những lúc tôi ghét mọi người chạm vào tôi, ghét họ hỏi han, giục giã, khuyên bảo, chăm sóc… Tôi nghĩ, xem phim, nghe nhạc, hay đọc sách với tôi nhiều khi là một cách để trốn tránh tất cả mọi người, tránh đời sống thực. Mà tôi nghĩ ngoài kia, chắc đa số mọi người là vậy.

Xét cho cùng, đó là một dạng tính cách, đời cho ta thế.

Càng lớn, khả năng điều hòa với xã hội càng cao hơn, tôi càng ít nghe nhạc Trịnh Công Sơn. Đôi khi, thấy mình đã khô cạn đi như cái ống tre thông nước hai đầu, chảy vào tới đâu, trôi ra đến đấy, tự nhiên thấy cũng đáng tiếc.

Nhưng biết sao được, đời cho ta thế…

Wednesday, June 3, 2009

Đào chi yêu yêu

Tôi thích bài này trong Kinh Thi. Nghe cứ nghĩ tới bài ca dao cũng na ná thế ở Việt Nam: Quả cau nho nhỏ, Cái vỏ vân vân, Nay anh học gần, Mai anh học xa…

Tuy nhiên, chuyện đó là chuyện dẫn dắt vòng vèo. Tôi có cái tật này, vô duyên tệ!

Vương An Ức là một nhà văn nữ người Trung Quốc, nói cái này nhiều người cười thầm. Nhưng có lẽ rất nhiều người đọc blog này không biết bà ấy là ai. Nếu ai quan tâm tới bà ấy thì có thể đọc thêm ở đây: http://www.kirjasto.sci.fi/wang.htm.

Trong trang này, tác phẩm cuối cùng được họ liệt kê là Tao Zhi Yao Yao viết năm 2004, chính là cuốn Đào chi yêu yêu, bản tiếng Việt Nam là Thắm sắc hoa đào do Sơn Lê dịch. Tôi mới đọc hai cuốn sách của Vương An Ức, một là Trường hận ca và cuốn còn lại chính là cuốn này. Trường hận ca đã được dựng thành phim năm 2005, giành được cái giải mở rộng gì đó của liên hoan phim Venice. Tôi chưa xem, và cũng không có ý định xem, vì tôi quá thích cuốn sách.

Vương An Ức là nhà văn duy nhất còn sót lại của đế chế văn học Trung Quốc trong lòng tôi. Cũng là nhà văn duy nhất đụng tới mấy chữ Cách mạng Văn Hóa mà không làm tôi khó chịu. Tôi nghĩ các nhà văn Trung Quốc tầm trung trung tuổi như những đứa trẻ bị cầm tù trong mớ đau khổ, hậm hực, uất ức về tuổi thơ, tuổi thanh xuân đã mất của mình. Sự yêu thích của tôi đối với các nhà văn hiện đại, đương đại Trung Quốc kết thúc với Một nửa đàn ông là đàn bà của Trương Hiền Lượng và nó cũng chỉ quay lại với duy nhất Vương An Ức.

Vương An Ức cũng như nhiều nhà văn nữ Tung Của khác, thường xuyên viết về phụ nữ. Tất nhiên là đa số phụ nữ thì viết về phụ nữ, nhưng các nhà văn nữ Trung Quốc thì đặc biệt mê số phận đàn bà của mình. Điều tôi thích ở Vương An Ức là cách viết đơn giản, thật thà của bà. Nếu ai đã đọc văn học Trung Quốc thì dễ nhận ra các bạn Tàu rất ưa khoa trương, khua môi múa mép, lấy thịt đè chữ… Cả trang sách cứ như gươm khua giáo vụt choang choang, loảng xoảng hết cả. Nhân vật của các nhà văn từ nam tới nữ đều ít nhiều ảnh hưởng lối viết này. Nhiều khi tôi hay liên tưởng họ với những con king kong vỗ ngực bùm bùm, rú lên mấy tiếng. Nhưng, Vương An Ức thì không.

Nhân vật của bà thường như một con người mọc ra từ đâu đó, một căn nhà nhỏ, một xó chợ nhỏ. Nhân vật đó thường không có cha, có chút nhan sắc, nhưng cuộc đời không bao giờ cho họ trở thành trung tâm, bản chất họ trong sáng, họ không toan tính, bản tính bền bỉ khiến họ không quá đau khổ nhưng họ buồn. Đào chi yêu yêu là cuốn sách cũng có một nhân vật như vậy. Cô gái trong đó xinh đẹp, nhưng vì không có cha, không có tình thương và tồn tại trong một môi trường không dung chứa cái đẹp, cô cứ trôi theo cuộc sống, lúc bị hắt hủi, lúc được yêu thương nhưng không bao giờ được tròn vẹn hạnh phúc. Nhân vật của Vương An Ức đấu tranh nhưng cũng như cam chịu, khao khát mà cũng như buông xuôi. Cuộc đời họ, nhìn lại, cũng chẳng có gì là quá bất thường, họ chịu ảnh hưởng của lịch sử, họ cũng yêu đương và thất bại, họ gặp toàn những người đàn ông bạc nhược và dễ thay lòng đổi dạ, họ cũng gặp được những Mạnh Thường Quân giúp đỡ… như bất cứ ai. Vậy mà cuốn sách của Vương An Ức, với những câu văn như sắp hàng chờ tới lượt mình được đọc, miên man như một dòng sông, lại có sức hấp dẫn lớn đối với tôi.

Có lẽ, tôi thích sự bình dị của bà, cũng như thích lòng tin vào sự trong sáng vĩnh cửu trong con người của bà. Cuốn sách có nhiều chi tiết trùng lặp với tiểu sử của Vương An Ức, nhưng nó không có nỗi uất hận của một cô gái đã bị cách mạng Văn Hóa làm dỡ lở việc học hành và đày đọa, nó chỉ là tiếng thở dài cho một tâm hồn tìm mọi cách để sống và tồn tại giữa thế giới vừa tốt đẹp vừa tàn nhẫn, vừa nhân hậu vừa vô tâm, giữa sự ích kỷ và cố chấp, định kiến của cộng đồng và hơn ai hết, là sự thiếu vắng tình yêu thương trọn vẹn và sự thông cảm. Và hơn nữa, văn chương của bà cũng không lên gân lên cốt, không đóng vai kinh kong. Vương An Ức có duyên kể chuyện, bà cứ kể, kể liên tục như thế, và rồi cuộc đời một con người đi tới kết thúc êm ái của nó mà vẫn là tiếng thở dài buồn.

Cuốn sách của bà, cũng như nhân vật của bà, đẹp nhưng giản dị, để người ta đi qua phải ngoái lại nhìn trước khi cô gái đẹp đi vào đám đông. Nhưng chắc chắn nếu người ta đã thích cô gái ấy, họ sẽ nhớ, nhớ mãi về cô ấy như một điều gì quý giá và buồn rầu.

Sunday, May 31, 2009

Three times

Bỗng nhiên lại một lần nữa viết về Hầu Hiếu Hiền. Không có gì mới, vẫn là một cái đã cũ đem ra xài lại. Nhưng, khi xem lại Three times – vẫn thấy lại xúc cảm ngày xưa, sau khi đã xem bộ phim từ hơn hai năm trước. Cho tới giờ, đây là bộ phim duy nhất tôi chưa từng đọc một review nào, bởi vì tôi chưa bao giờ viết gì về nó cho trọn vẹn.

Chie đã vác về nhà bộ phim Le Voyage du Ballon Rouge. Nhưng tôi chưa xem – không phải vì không có thời gian, mà tôi chưa muốn làm quen với Hầu Hiếu Hiền trong một bộ phim “không châu Á”.

Trước đây, tôi không hiểu tại sao ngay từ bộ phim đầu tiên, tôi đã thích đạo diễn này tới thế. Nhưng, giờ thì tôi hiểu. Ông có quá nhiều thứ tôi thích, và tôi có: bi quan, cực đoan, muốn xây dựng về mọi thứ như hàng ngày nó vẫn diễn ra như thế, tình yêu trong sáng dành cho trẻ em, nỗi buồn rầu dành cho những cô gái đẹp – mọi cô gái… Hầu hết phim Hầu Hiếu Hiền đều khiến cho người ta có cảm giác như ông có thể bắt đầu từ bất cứ khi nào, cũng có thể kết thúc vào bất cứ khi nào. Nhưng, tôi cảm thấy cuộc sống vẫn như thế, trữ tình, buồn, cay đắng và kiềm chế, rối loạn… nhưng nó đẹp, và không ai muốn từ chối nó, dù người ta cứ đi, đi mãi, tìm kiếm mãi một cái gì, rời bỏ một cái gì.

Three times là bộ phim hiếm hoi của Hầu Hiếu Hiền thực sự nói về tình yêu. Tình yêu của ba thời đại. Tôi nhớ thầy NQL đã nói về bộ phim này. Thầy – từ cái nhìn của một nhà biên kịch – cho rằng kịch bản của bộ phim đáng vứt đi. Người ta không ai lại chia ba thời thành ba khúc như vậy, người ta có thể đan cài nó vào nhau. Nhưng, đến cả David Lynch cũng chỉ dám dùng chung diễn viên cho hai cuộc đời trong Mulholland Dr., Hầu Hiếu Hiền có những ba. Hơn nữa, ta không cần thiết làm cho bộ phim thành quá phức tạp và không hiểu được. Tuy nhiên, khi nói về nội dung phim, thầy nói: ở phần thứ nhất, bối cảnh năm 1966: tình yêu là khi người đàn ông đi tìm người đàn bà; ở phần thứ hai, năm 1911: tình yêu là khi người đàn bà chờ đợi người đàn ông ra đi chẳng biết khi nào quay lại… Nhưng thầy không nói về câu chuyện thứ ba, năm 2005. Tôi thì có thể nói nốt về câu chuyện này. Vào năm 2005, tình yêu đã chết.

Tôi sẽ làm một việc hết sức bần tiện là kể lại cho mọi người nghe từng phần một của bộ phim (bởi tôi đã cố bảo một vài người xem bộ phim này và họ chỉ xem hết phần thứ nhất và vứt toẹt nó đi). Tôi sẽ không viết về những thứ mà tôi đã viết quá nhiều về Hầu Hiếu Hiền như phá vỡ bố cục, sức biểu cảm của ánh sáng, long take, góc máy… Những cái đó, ai xem phim của ông đều đã biết, và cũng vì những thứ đó mà đa số người ta ngủ lăn quay khi xem phim ông, đặc biệt là với những phim A time to live, a time to die hay Flowers of Shanghai.


Người ta dễ phải lòng phần đầu tiên, câu chuyện tình năm 1966. Và đó hẳn cũng là lý do Hầu Hiếu Hiền đưa nó lên đầu tiên và gọi nó là A time for love, dù theo trật tự thời gian nó phải nằm ở giữa. Đó là những ngày hạnh phúc. Cô gái tới làm việc cho một quán bi-a, ở đó cô đọc được lá thư tỏ tình của người đàn ông dành cho một phụ nữ khác. Họ gặp nhau, chơi bi-a cùng nhau. Cô chuyển đi, anh nhập ngũ. Anh đi tìm lại cô qua bao nhiêu mảnh đất. Rồi anh tìm được cô. Họ gặp nhau, hỏi han vài điều giữa quán bi-a đông nghẹt, cô xin cho anh điếu thuốc, họ đi ăn tối. Anh lỡ chuyến tàu cuối cùng, và họ đợi chuyến xe muộn. Dưới mưa, tay họ tìm lấy nhau, không quá riết róng, nhưng đủ dịu dàng để nói một điều từ đáy lòng.

Với Hầu Hiếu Hiền, thập kỷ 60 hẳn là những ngày ông yêu nhớ nhất trong suốt cuộc đời. Nỗi hoài niệm của ông về những ngày này lặp đi lặp lại, lãng mạn, thanh bình. Ông sử dụng hai bài hát tiếng Anh nổi tiếng của những năm 60 cho đoạn phim này. Chúng không hẳn là hai bài hát ngọt ngào và vui vẻ, nhưng từ đó, người ta thấy được cảm giác của tình yêu pha với cảm giác nuối tiếc.


Tuy nhiên, bài hát khiến người ta nhớ nhất phim phải là bài hát của đoạn thứ hai, năm 1911 – A time for freedom. Đó là một trong hai cảnh có âm thanh duy nhất trong suốt cả một đoạn phim câm dài. Tôi biết Thư Kỳ không hát những lời này, nhưng khuôn mặt cô biểu cảm chân thực tới mức người ta thấy cô đang rung chuyển. Tiếng hát đó sầu thảm, da diết và run rẩy. Người đàn ông trong phim đó nói nhiều tới tự do, tới cuộc đấu tranh mà anh theo đuổi để giành độc lập cho đất nước, anh giúp đỡ một cô ca kỹ khác để cô ấy có được tự do. Nhưng, điều duy nhất anh quên là tự do của người phụ nữ yêu anh – và có thể là người phụ nữ anh yêu. Cô là con chim đẹp bị nhốt lại trong lồng, và anh đi vì tự do, để cô ở lại cái lồng đó.


Phần về năm 2005 mang lại câu chuyện khiến cho nhiều người rất yêu thích, nhưng cũng sẽ có nhiều người phản ứng, đó là A time for youth. Có một cô gái lưỡng tính – cô có (và đã từng có) bạn gái nhưng cô vẫn tìm tới một người đàn ông. Hình ảnh cô gái đó đứng bên cửa sổ, cô che con mắt sáng của mình lại và nhìn vào người đàn ông bằng con mắt gần như mù của mình với tôi là một chi tiết không bao giờ quên được. Nhân vật Qing – tên cô gái này luôn quay lại với tôi khi tôi nghĩ về một người bạn. Sự tồn tại của cô thực sự chỉ là một bàn tay bám hờ hững vào cuộc sống. Cô luôn phải đeo tấm thẻ ghi thông tin để người ta biết cách cứu cô khi đột quỵ, cô yêu mà không yêu, cô buồn trong mọi hoàn cảnh, cô hát những lời rạn vỡ. Cô không có quá khứ, không có tương lại, chỉ có một thực tại của “hunger”. Cô gái trong phim này còn bi đát hơn cả người cô gái trong Millennium Mambo. Tình yêu của cô với người bạn gái hay với người đàn ông thực ra đều không tồn tại, và như tôi đã nói, tới năm 2005, tình yêu đã chết rồi (và giờ đã là năm 2009).

Điều kỳ quặc với riêng tôi là tôi không đồng cảm với bất cứ câu chuyện tình nào trong ba câu chuyện tình kể trên. Nhưng, toàn bộ phim, cả ba cuộc tình đó, lại chia sẻ với tôi rất nhiều điều. Hình ảnh cuối cùng của phần thứ nhất, năm 1966 khiến tôi nghĩ tới câu hát của Phạm Duy “Đưa em về dưới mưa, nói bao nhiêu cũng thừa”… Và cô gái của năm 2005, với khuôn mặt cô buồn bã, hoang mang thành vô cảm khi ngồi sau chiếc xe của người đàn ông khiến tôi nghĩ tới mọi thứ đang diễn ra quanh mình, Hà Nội. Người phụ nữ của năm 1911, với nỗi đau khổ chuyển thành thanh âm của bài hát, với cách cô chu đáo chỉnh lại từng chiếc khăn sau khi kẻ khác dùng, cách chăm chút kẻ lại đôi lông mày, và cách cô không háo hức nhưng kiên nhẫn đọc lá thư của người tình đã bỏ mặc cô khiến tôi cảm thấy chữ “đẹp” được hiện lên thành hình ảnh.

Và tôi nghĩ, ngoài Hầu Hiếu Hiền ra, không ai có thể tạo nên ở tôi cảm giác đó.

Ngay cả khi Three times chưa từng đứng trong top 5 phim tôi muốn xem lại nhất.